TÌM HIỂU PHONG TRÀO HỢP TÁC HÓA NÔNG NGHIỆP 1958 - 1980 - HỒNG LIÊM

 

TÌM HIỂU PHONG TRÀO HỢP TÁC HÓA NÔNG NGHIỆP 1958 – 1980


Bài viết là sự tóm tắt, tổng hợp lại các quan điểm của PGS. TS Lê Trọng trong cuốn sách “Kinh tế hợp tác của nông dân trong kinh tế thị trường (1994)”

Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp ở nước ta bắt nguồn từ đầu năm 1958, xuất phát từ Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa II). Từ những đợt hợp tác thí điểm, bước đầu phát triển thành phong trào hợp tác hóa nông nghiệp khắp các tỉnh miền Bắc, sau đó lan rộng vào miền nam từ năm 1977, sau khi đất nước đã hòa bình.

Mục đích của phong trào là nhằm tổ chức lại phương thức sản xuất nông nghiệp từ quy mô nhỏ phát triển dần lên thành nền sản xuất lớn XHCN, đưa bà con vào lề lối làm ăn chung, phát huy sức mạnh tập thể và bảo đảm an ninh lương thực. Phong trào đã phát triển mạnh trong giai đoạn 1958 – 1960. Tuy nhiên, từ sau 1966 bắt đầu thoái trào và dẫn đến sự tan rã của nhiều HTX nông nghiệp sau này. Chúng ta cùng nhìn lại lịch sử để nghiên cứu, thảo luận.


I. Trước năm 1958

1. Chủ trương

 Ở miền Bắc, sau khi hòa bình lập lại, Đảng và Nhà nước đề ra kế hoạch hai năm hàn gắn vết thương chiến tranh (1955 – 1956) và ba năm khôi phục kinh tế (1957 – 1959), quan tâm, vận động nhân dân giúp đỡ nhau bằng hình thức tổ đổi công, đồng thời đề ra chủ trương làm thí điểm, xây dựng HTX ở các tỉnh Thái Nguyên, Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Ninh Bình và Thanh Hóa.

2. Kết quả

Nhìn chung các tổ đổi công được xây dựng trong thời kỳ 1955 – 1957 đã phát triển tốt. Riêng năm 1957 khi phát hiện sai lầm trong cải cách ruộng đất thì số tổ đổi công tạm thời giảm sút [1].

II. Từ năm 1958 đến năm 1980

A. Miền Bắc

1. Chủ trương

- Theo Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa II) và từ kết quả thí điểm HTX, phong trào hợp tác hóa miền Bắc được triển khai

- Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 16 (khóa II) đề ra nghị quyết phát triển phong trào thành cuộc vận động lớn khắp các tỉnh miền Bắc.

- Nhiều chủ trương, cuộc vận động lớn được đề ra nhằm củng cố, hoàn thiện QHSX mới ở nông thôn, gồm:

+ Cuộc vận động “4 tốt”: “Đoàn kết tốt; Sản xuất tốt, tăng thu nhập xã viên; tích lũy xây dựng hợp tác xã tốt; làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước”

+ Cuộc vận động cải tiến quản lý, kỹ thuật trong HTX (Nghị quyết 20 Bộ Chính trị khóa III)

+ Cuộc vận động thi hành điều lệ HTX và cuộc vận động dân chủ trong quản lý HTX

2. Kết quả

- Tích cực:

+ Đến cuối năm 1960, miền Bắc căn bản hoàn thành hợp tác hóa nông nghiệp bậc thấp với 84,8% nông hộ và 68,1% diện tích ruộng đất canh tác được đưa vào 40.422 HTX làm ăn tập thể, trong đó có 10% là HTX bậc cao.

+ Miền biển thí điểm HTX ngề cá, đến cuối năm 1960 thu hút 78% ngư dân và 75% thuyền lưới đưa vào làm ăn tập thể [2].

+ Kết quả khả quan đầu năm 1960 tạo ra sự biến đổi lớn về kinh tế - xã hội trong nông thôn miền Bắc: “Dân có ruộng dập dìu hợp tác. Lúa mượt đồng ấm áp làng quê… Chế độ người bóc lột người bị xóa bỏ, lao động tập thể thay cho lối làm ăn cá thể”

- Tiêu cực

+ Trong thời kỳ 1966 – 1970, cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ đã mở rộng trên miền Bắc. Do đó nhiều Nghị quyết của Đảng đã quyết định chuyển hướng về tư tưởng tổ chức chỉ đạo kinh tế gắn với quốc phòng trong điều kiện cả nước có chiến tranh nhằm mục tiêu “tất cả để chiến thắng, tất cả để giải phóng miền Nam”. HTX tuy là đơn vị kinh tế thống nhất sản xuất kinh doanh và phân phối nhưng lại mang nặng tính chất như là đơn vị hậu cần: Sản xuất chủ yếu là để hoàn thành nghĩa vụ lương thực, thực phẩm theo chỉ tiêu Nhà nước giao ngày càng tăng lên để phục vụ cho tiền tuyến.

+ Phân phối trong nội bộ HTX mang nặng tính chất bình quân theo các chính sách “hậu phương”, kiểu phân phối áp đặt “tối thiểu 13, tối đa 18”. Do vậy các hiện tượng tiêu cực trong phân phối ngày càng phát sinh, các yếu tố tích cực trong sản xuất tập thể ngày càng bị triệt tiêu.

+ Chủ trương mở rộng quy mô các HTX và đội sản xuất bằng cách hợp nhất nhiều đội sản xuất nhỏ lại. Chủ trương này lại mâu thuẫn với trình độ cán bộ các đội sản xuất còn yếu, không thể điều hành tốt. Đặc biệt, lại có chủ trương xóa bỏ hình thức đội sản xuất cố định chuyên theo sản phẩm bằng cách rút trâu bò, nông cụ ra khỏi đội để “quy về một mối” theo chuyên khâu, xóa bỏ chế độ “khoán theo sản phẩm” chuyển sang “khoán theo từng khâu công việc” [3].

Những cách làm trên đã triệt tiêu động lực sản xuất của người lao động trong các HTX giảm mạnh, khiến cho năng suất lao động ở khu vực kinh tế tập thể tụt xa so với các hộ làm ăn cá thể. So với giai đoạn 1972 – 1974, giai đoạn 1975 – 1977 năng suất đã giảm đi 18,1% [4]. Chính điểm này đã gây mất lòng tin của nông dân đối với lối làm ăn hợp tác, vì so với lối làm ăn cá thể thì kinh tế tập thể thua kém xa. Vì vậy, cuộc khủng hoảng kinh tế HTX 1977 – 1979 xảy ra là tất yếu.

B. Miền nam

1. Chủ trương

Sau khi miền Nam được giải phóng, đầu năm 1977, công cuộc hợp tác hóa nông nghiệp ở miền Nam được tiến hành thí điểm, triển khai theo 2 bước:

- Bước I: làm thí điểm xây dựng HTX đầu tiên ở Tân Hội (Cai Lậy – Tiền Giang), tiếp theo là làm ở Ô Môn (Hậu giang) và Long Thành (Đồng Nai).

- Bước II: Sau khi rút kinh nghiệp, ngày 4/8/1977, TW Đảng ra Chỉ thị 15 về mở rộng thí điểm đến tất cả các huyện. Mỗi huyện chọn một vài xã ấp để làm thí điểm

2. Kết quả

- Mặc dù các HTX được đầu tư công sức, vốn liếng của Nhà nước rất nhiều vào xây dựng thủy lợi, giao thông, lại có cán bộ TW xuống chỉ đạo trực tiếp nhưng khó thuyết phục trung nông tham gia vì kết quả sản xuất và hiệu quả kinh doanh của HTX chưa cao hơn họ.

- Toàn miền Nam số hộ tham gia tập đoàn sản xuất ở đầu năm 1979 là 22,4%, đến cuối năm giảm xuống còn 11,1%. Điều đó cho thấy, áp dụng rập khuôn các mô hình HTX miền Bắc và tình hình miền Trung và Nam Bộ sẽ dẫn đến thất bại tất yếu.

III. Đánh giá

1. Thành công

- Bước đầu tạo ra được sức mạnh tập thể, xây dựng hệ thống cơ sở vật chất – kỹ thuật cho nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

- Là hậu phương vững chắc trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và chiến tranh biên giới thắng lợi

- Bước đầu xây dựng ý thức cho nhân dân hiểu được tính ưu việt của lối làm ăn hợp tác

Nguyên nhân chủ yếu của những thành công là nhờ tính ưu việt của lối làm ăn tập thể đã phát huy tác dụng từ ban đầu. Đồng thời, trong giai đoạn đầu của phong trào hợp tác hóa, cuộc kháng chiến chống Mỹ chưa lan rộng ra miền Bắc nên huy động được sức người, sức của. Tình hình tiêu cực, tham nhũng của cán bộ còn ít.

2. Thiệt hại

- Bao trùm là lợi ích kinh tế của người lao động giảm rõ rệt theo thời gian [5]. Giá trị ngày công giảm xuống, kéo theo sức mua của người lao động cũng giảm đi.

- Tồn tại tình trạng tham ô, bao cấp tràn lan, nhất là bao cấp về ngày công (tính công để ăn chia mà không tham gia hoạt động kinh doanh cho HTX), làm cho ngày công không phản ánh đúng giá trị sức lao động của xã viên đã cống hiến cho tập thể.

- Do những nhận thức không đúng về đặc điểm sinh học của nông nghiệp đã ảnh hưởng xấu đến tư tưởng của nông dân trong hợp tác nông nghiệp. Ví dụ, những khâu công việc có tính chất dịch vụ hoặc sản xuất mà từng gia đình không làm được hoặc làm không có lợi bằng hợp tác thì cần tổ chức hợp tác. Các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến “sinh học” mà từng hộ đã có kinh nghiệm, từng hộ làm có lợi hơn thì để nông hộ tự làm. Thực tế đã làm ngược lạilàm quá nhanh, ồ ạt, chưa kịp “để cho nông dân suy nghĩ trên luống cày của họ”.

- Trong các cuộc vận động tổ chức lại HTX nông nghiệp, đã vấp phải sai lầm áp dụng phương pháp tổ chức công nghiệp vào nông nghiệp, thành lập tổ chức lại theo chuyên làm từng khâu, gây mâu thuẫn với những đặc tính của sản xuất nông nghiệp. Kết quả, năng suất lao động giảm mạnh, có nơi giảm đến 18,1 %.

- Một số HTX ban đầu là điển hình tiên tiến, là HTX bậc cao. Song sau đó có chủ trương sáp nhập các điển hình tiên tiến lại với các HTX khá và HTX trung bình. Hệ quả, có sự chênh lệch trình độ trong đội ngũ quản lý, số lượng và quy mô HTX tăng đột ngột khiến cán bộ chưa kịp thích ứng. Cuối cùng, không thể cải thiện được các HTX khá và HTX trung bình mà còn kéo những HTX điển hình tiên tiến xuống [6].

- Một số HTX điển hình tiên tiến được bồi dưỡng cho những chủ trương không đúng (Ví dụ, chủ trương “tập trung trâu bò về một mối”), sau đó nhân rộng lên phổ biến và rộng cho khắp cả nước, khiến cho tình hình trầm trọng thêm.

IV. Kết luận

Phong trào hợp tác hóa nông nghiệp là một cuộc vận động triệt để nằm cải tạo QHSX, đưa quan hệ sản xuất tập thể thay thế dần cho QHSX cá thể, xóa bỏ sự bóc lột của phú nông, đưa bà con vào lối làm ăn chung, tạo sự đoàn kết và ý thức lao động tập thể. Tuy nhiên, vì các yếu tố khách quan từ cuộc trường kỳ kháng chiến chống Mỹ và những sai lầm chủ quan đã dẫn đến sự thoái trào của phong trào và sự tan rã của các HTX. Cần ghi nhận những thành công mà phong trào hợp tác hóa để lại. Song, cần xác định những thất bại xuất phát từ phương pháp triển khai chứ không phải bản thân của lối làm ăn tập thể XHCN. Việc nhìn nhận đúng nguyên nhân dẫn đến sự thoái trào của phong trào là cơ sở để xây dựng những phương thức hiệu quả hơn trong việc tổ chức lao động, sản xuất tập thể, phản bác những luận điệu đả kích lối làm ăn tập thể và bảo vệ niềm tin của nhân dân đối với lao động XHCN./ .

 

Tài liệu tham khảo

[1] Báo cáo phân tích thống kê hợp tác hóa nông nghiệp, Tổng cục Thống kê, 1989

[2] Báo cáo phân tích thống kê 30 năm hợp tác hóa nông nghiệp (1958 – 1988), Tổng cục thống kê, 1989

[3] Lê Trọng. (1994). Kinh tế hợp tác của nông dân trong kinh tế thị trường. NXB Nông Nghiệp. Hà Nội. tr.36, 37

[4] Lê Trọng. (1980). Về thù lao lao động trong hợp tác xã nông nghiệp. Nghiên cứu kinh tế, số 3 tháng 6/1980. Tr.22-31, 44.

[5] Hồng Hải. (1980). Bàn về hiệu quả kinh tế và phương hướng hoàn thiện các hình thức tổ chức lao động trong các hợp tác xã sản xuất lúa. Nghiên cứu kinh tế số 5 tháng 10/1980. Tr.24-39.

[6] Lê Trọng. (1980). Kinh nghiệm của các hợp tác xã tiên tiến và việc nhân điển hình tiên tiến trong nông nghiệp. Nghiên cứu kinh tế số 1 tháng 2/1980. Tr.54-62

 

 

 

 

 

on Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2026 | | A comment?
0 responses to “TÌM HIỂU PHONG TRÀO HỢP TÁC HÓA NÔNG NGHIỆP 1958 - 1980 - HỒNG LIÊM”